Kỷ niệm 64 năm thành lập ngành du lịch Việt NamKỷ niệm 64 năm thành lập ngành du lịch Việt Nam
Đảo hoa ở Kon Trang Long Loi- Tác giả: Ban NguyễnĐảo hoa ở Kon Trang Long Loi- Tác giả: Ban Nguyễn
Quốc bảo Sâm Ngọc Linh K5Quốc bảo Sâm Ngọc Linh K5
Thác Pa Sỹ- Tác giả: Đào Phúc Quang VũThác Pa Sỹ- Tác giả: Đào Phúc Quang Vũ
Tiếng vọng- Tác giả: Nguyễn Thế ĐứcTiếng vọng- Tác giả: Nguyễn Thế Đức
Lợp mái nhà Rông-Tác giả: Nguyễn BanLợp mái nhà Rông-Tác giả: Nguyễn Ban
Hoa mai anh đào khoe sắc- Tác giả: Bùi Thanh TrungHoa mai anh đào khoe sắc- Tác giả: Bùi Thanh Trung
Nét mới trên lòng hồ thủy điện Plei Kroong- Tác giả: Huy ĐằngNét mới trên lòng hồ thủy điện Plei Kroong- Tác giả: Huy Đằng

Nét văn hóa đặc trưng của người Ba Na – Jơ Lâng dưới thung lũng Đăk Pne


Ngày đăng: 30-06-2023

Đăk Pne là tên của một con suối lớn, bắt nguồn từ núi Kông Xu Xe thuộc quần sơn Kông Ka Kinh, chảy ngược từ hướng Nam lên hướng Bắc, qua Kông Nguôk địa phận làng Kon Kring, Kon Ktonh, Kon Hlăng, Kon Gộp, Kon Gol, Kon Tuk nhập với suối Đăk Long chảy về phía Tây, đi qua các làng Kon Cheo Leo, Kon Du nhập với dòng Đăk Bla tạo thành một thung lũng rộng lớn, kéo dài từ Đông sang Tây.

Nằm dưới thung lũng Đăk Pne, người BaNa đã định cư ở đây từ rất lâu đời. Họ là cư dân thuộc nhóm Jơ Lâng, nói ngôn ngữ Môn – Khme. Các ngôi làng của dân tộc BaNa - Jơ Lâng sống chủ yếu trên lưu vực sông Đăk Pne như làng Kon Gộp, Kon Gôl, Kon Tuk...

Trong xã hội cổ truyền, làng (Kon, Pơ lei) được xem là đơn vị duy nhất và có cơ chế quản lý riêng được thông qua người đứng đầu làng, thường gọi là Chủ làng hay Già làng (Kră Pơ lei). Theo phong tục của người BaNa - Jơ Lâng ở Đăk Pne, già làng là người được kế tục từ đời này sang đời khác, được dân làng thừa nhận và đứng ra tổ chức các nghi lễ chung của làng. Trong trường hợp, người kế tục chết đột ngột không ai thay thế, người phụ nữ (vợ của Già làng) giữ vai trò Già làng trong các nghi lễ.

Theo tập quán định cư, người BaNa - Jơ Lâng thường chọn những vị trí bằng, phẳng, lưng chừng đồi, nơi có khoảng trống đủ và gần khe suối đảm bảo số lượng dân số để lập làng. Trong quá trình sinh sống nếu có thành viên khác muốn gia nhập vào làng, theo tập quán họ cho ở từ 2 đến 3 năm ngoài rìa làng. Trong thời gian đó, dân làng không xảy ra chuyện gì hoặc ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động của làng, họ mới chấp nhận chính thức là thành viên của làng mình.

 Các thôn, làng của người BaNa - Jơ Lâng ở Đăk Pne đều có nhà Rông (Jơng). Đây là ngôi nhà cộng đồng chung của làng - nơi sinh hoạt các nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo và các hoạt động lễ hội, hay giải quyết mọi công việc của làng. Theo quan niệm xưa của người BaNa- Jơ Lâng, nhà Rông thường được chọn đặt ở vị trí phía dưới của làng, các ngôi nhà thường được dựng xung quanh và mở hướng cửa hướng về phía nhà Rông. Nhà Rông ở người BaNa - Jơ Lâng có kích thước dài, ngắn khác nhau, tùy thuộc vào dân số của làng. Chiều dài khoảng 30m, chiều rộng 7,5m, chiều cao 10m, có nhà chỉ dài 20m, rộng 5,5m, cao 7,5m; được thiết kế theo kiểu hình chữ Nhật; hệ thống cột kèo, được làm bằng gỗ, mái lợp tranh, vách nứa, nền (sạp) làm bằng lồ ô, nứa.

Nhà Rông ( Jơng) của người BaNa -  Jơ Lâng ở Đăk Pne.

Khi quan niệm về nhà ở của người BaNa -  Jơ Lâng, họ có 3 nơi để ở, làm ăn và sinh sống. Đó là: Pơlei (Tơ Pơlei) tức ở Làng và Dâm (Tơ Dâm) tức nhà Đầm và cuối cùng là Mir (Tơ Mir) tức ở chòi rẫy. Vì cuộc sống chủ yếu dựa vào nương rẫy, chăn nuôi, trồng trọt là chính do đó họ chủ yếu ở nhà Đầm. Khi làng tổ chức lễ hội, mọi người mới trở về nhà làng (Tơ Plei) để thực hành các nghi lễ đó. Sau khi xong các lễ hội của làng, họ lại tiếp tục quay lại ở nhà Đầm (Tơ Dâm). Đây là tập quán cư trú đặc trưng mà người BaNa - Jơ Lâng vẫn còn tồn tại cho đến này nay.

Người BaNa - Jơ Lâng ở xã Đăk Pne chủ yếu kinh tế nông nghiệp. Họ thường canh tác lúa rẫy và lúa ruộng tại khu vực làng sinh sống. Đối với lúa rẫy, phương thức canh tác vẫn theo cách thức truyền thống như “Phát, đốt, chọc, trỉa” trên những khu đồi núi. Xưa kia, họ luân canh theo mùa. Hiện nay, người BaNa - Jơ Lâng định canh trên khu rẫy của mình và trồng xen canh một số hoa màu như: Bắp, bí, rau,... để làm nguồn thức ăn cho gia đình.

Giống như các dân tộc khác, người BaNa - Jơ Lâng theo tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh. Trong các nghi lễ truyền thống đều theo chu kỳ của năm và gắn với nông nghiệp nương rẫy như: lễ tìm đất mới (Chă Bri nao) và lễ xuống giống (Choi) vào tháng 5; Lễ làm nhà Kho (Pơm Sum); Lễ Ét Dông (cầu mùa lúa hay gọi là lễ ăn Dúi); Lễ ăn lúa mới (Sa Ba nao); Lễ mang thần lúa về nhà kho (Dong Ba); Lễ cúng máng nước (klang Tơ Nglang Đăk).

Các lễ hội mang tính quy mô làng như: lễ Tết truyền thống (Plel) thường tổ chức vào tháng 2; Lễ đổi tà ma (Dieng Dat), tổ chức vào tháng 7 và lễ ăn trâu (sa kơ pô) thường tổ chức từ tháng 11 đến tháng 4 (dương lịch) năm sau. Hay các nghi lễ theo vòng đời người gồm có lễ đặt tên (Tơ Nhur), lễ cưới, lễ tang …

Hoa văn trang trí trên cây nêu của người  BaNa -  Jơ Lâng.

Trong các lễ hội, Ét Dông được tổ chức với quy mô lớn, mang tính cấu kết của cả cộng đồng làng rất cao. Thời gian dành cho các nghi lễ này thường kéo dài từ 3 đến 4 ngày. Trong đó, lễ “Et Đông” là một lễ hội mang yếu tố tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy, được tổ chức thường niên vào cuối tháng 9 hay đầu tháng 10, khi cây lúa chuẩn bị trổ bông, bụng lúa đã to. Dân làng tổ chức làm lễ tại Nhà Rông (Jơng) cầu mong Thần lúa (Yang Sơ Ri) phù hộ cho mùa màng bội thu, gia đình no ấm, đầy đủ, không bị đói. Lễ hội này được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa lễ Ét Dong (lễ ăn con Dúi) vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia để bảo tồn và phát huy vào năm 2021.

Bên cạnh các nghi lễ, người BaNa - Jơ Lâng còn trình diễn các nhạc cụ truyền thống như: Cồng (Goong) 4 chiếc, kết hợp với trống (Hơ Gor) 3 chiếc hay bộ Cồng chiêng 12 chiếc (3 Cồng + 9 chiêng). Bên mái nhà rông, người đàn ông còn sử dụng đàn như Prưng, Prok để hát lên những bản tình ca, ca ngợi về tình yêu đôi lứa, về cha mẹ, anh em, vợ, chồng. Qua đó, họ còn hát giao duyên (Hri, Hvơng, Hmoi). Khi màn đêm buôn xuống, dưới ánh lửa hồng, bên chóe rượu cần những người già kể cho nhau nghe những câu truyện cổ tích, hay sử thi (Hơ Moong) nói về những anh hùng dân tộc, có sức mạnh phi thường, đứng ra bảo vệ dân làng, đấu tranh cho lẻ phải, yêu chuộng hòa bình... Họ hay kể về Giông – Dia; HRok và Set; Ya Sơ Krua (người sinh ra vạn vật) hay Bok Ơ Trơng Lơl (người khổng lồ).

 Đây là những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cần được bảo tồn, gìn giữ và phát huy nhằm gắn với việc phát triển du lịch cộng đồng ở người BaNa - Jơ Lâng ở Đăk Pne nói riêng và huyện Kon Rẫy nói chung. Nơi có hệ sinh thái rừng đa dạng và phong phú, đất rộng người thưa, khí hậu ôn hòa, sông núi hữu tình, tạo nguồn cảm hứng cho du khách xa gần muốn trải nghiệm và khám phá./.

Bài, ảnh: Ngok Linh Nguyên

 

TIN TỨC LIÊN QUAN

Quảng Bình được bình chọn là một trong những điểm đến đẹp nhất thế giới

VHO - Theo Tạp chí Travel+Leisure, Quảng Bình là 1 trong 13 điểm đến trong mơ, nơi mang đến những trải nghiệm hiếm có mà du khách không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.

Mãn nhãn với Lễ hội Vịnh ánh sáng quốc tế Nha Trang

VHO - “Đêm khai mạc (13.7) Lễ hội Vịnh ánh sáng quốc tế Nha Trang 2024 với chủ đề “Ngân hà rực rỡ”, là phần thi biểu diễn ánh sáng từ thiết bị bay không người lái (drone) hấp dẫn, kịch tính giữa 2 đội Hàn Quốc và Trung Quốc, thu hút khoảng 50.000 du khách trong nước và quốc tế.

Tạo động lực cho du lịch phát triển

Bám sát tinh thần Nghị quyết số 12 - NQ/TU ngày 18/5/2022 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI về phát triển du lịch tỉnh Kon Tum đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, tỉnh ta tiếp tục hoàn thiện nhiều cơ chế, chính sách nhằm kích cầu, tạo đà cho nền du lịch tăng trưởng và phát triển bền vững.

Trao đổi, thảo luận bàn giải pháp kích cầu du lịch nội địa trên địa bàn tỉnh Kon Tum.

Chiều ngày 8/7/2024, tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum đã diễn ra buổi trao đổi, thảo luận bàn giải pháp kích cầu du lịch nội địa trên địa bàn tỉnh Kon Tum nhân kỷ niệm 64 năm ngày thành lập Ngành du lịch Việt Nam (9/7/1960 - 9/7/2024).